Lễ Cầu Hồn Cho Một Giấc Mơ

      125

“I guess the basic plot element is the great American Dream and the acquisition of which will destroy you. It’s a cancer and it’s just absolutely destructive and how it effects these people

Tác giả Hubert Selby Jr. đã nói thế trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 2000 với Duncan Elkinson nhân sự kiện ra mắt bộ phim “Requiem for a dream” được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của mình.

Bạn đang xem: Lễ cầu hồn cho một giấc mơ

Requiem for a dream (RFAD) thật sự là một trải nghiệm điện ảnh tuyệt vời, phải nói là xem xong tui đã thần người vì sự choáng ngợp trước ý niệm về những lớp lang hàm nghĩa và cả về mặt hiệu ứng hình ảnh cũng như phong cách làm phim của Darren Aronofsky. Hãy xem ngay khi có thời gian!

Một trong những điều đọng lại trong tui là chiếc poster phim, sâu sắc và đầy bi kịch. Đôi mắt đồng tử giãn và chiếc váy đỏ giữa biển xanh xa xăm. Hiện thực và những khát khao thiểm thước. Hư vô và ảo vọng. Suy cho cùng, nó cũng chỉ là một cuộc trốn chạy không lối thoát trên lằn kẻ tàn khốc giữa tỉnh và mơ của những kẻ thổi phồng mình bay lên bằng những giấc chiêm bao để rồi cuối cùng vỡ tan trong đớn đau cùng đáy.

“Requiem for a dream” là một nhan đề rất ấn tượng đối với tác phẩm này. Với tôi, đó là “Khúc điệu hồn của những ảo vọng”. Gột tả một cách cay đắng Giấc mơ Mỹ và những bi kịch mà nó mang lại. Giống tác phẩm điện ảnh “Mulholland Drive” của David Lynch, một lần nữa American Dream lại làm cho con người ta lao đao đến thế. Một lần nữa, những vong linh bị nguyền rủa bởi những viễn mộng của mình lại bị đẩy vào chốn tàn điêu của thế giới, không ai xót thương. Như khao khát lay lắt rồi chợt lóe giữa Hollywood, RFAD là câu chuyện của nỗi cô đơn và những bi kịch ảo mộng giữa lòng New York.

RFAD là màn trình diễn mãn nhãn với sự sáng tạo và linh hoạt trong tư duy điện ảnh của Aronofsky. Đây chắc chắn là một bộ phim mang màu sắc u tối và gây cảm giác bất an xuyên suốt nếu không nói là kinh sợ cho khán giả. Cân nhắc thì chắc cũng nên cân nhắc một xíu khi xem. Aronosky đã có lối kể chuyện bằng hình ảnh khá tốt và phù hợp với tinh thần của tác phẩm. Tui rất ấn tượng với những đoạn hip-hop montage, close-ups montage và duplicate sequence của phim. Những cú cắt nhanh ấy vừa tạo nhịp độ dồn dập cần có cho bộ phim vừa đem lại trải nhiệm giác quan thú vị cho khán giả. Nó đưa người xem vào trong chính cơn phê thuốc của nhân vật (cách nó tác động tới trí não con người), dắt họ vào sâu trong câu chuyện của RFAD bằng cách tạo một mối liên hệ bền chặt mà chất keo chính là sự đồng cảm giữa khán giả với nhân vật.


*
Requiem for a dream” hip-hop montage. Nguồn ảnh: Internet.

Bên cạnh đó, tui còn thích cách là Aronofsky chia màn hình làm đôi để thể hiện nhân vật. Bằng cách đó, đạo diễn người Mỹ đã khai thác vừa đủ chiều sâu của nhân vật từ biểu cảm khuôn mặt và cử chỉ dẫu là nhỏ nhất. Theo tui, nhân vật đã được khắc họa với cá tính và động cơ đủ tốt để tuyến nhân vật không trở nên nhờ nhạt mà có sức hút riêng thông qua việc thay đổi góc nhìn của câu chuyện.

Đến đây phải nói đến sự thao túng thời gian trong phim và khả năng chi phối xúc cảm khán giả của Aronofsky. Phim sẽ có những góc máy rất dị như kiểu xoay tròn kết hợp hiệu ứng fish-eyes tạo cảm giác hoang tưởng và mơ hồ. Những đoạn time-lapse thể hiện chân thực cảm giác phê thuốc, những đoạn hơi hướng found footage đã góp phần gây áp lực tâm lí và thổi một làn hơi trầm đục vào thụ cảm của khán giả.

*
Requiem for a dream” cut scene. Nguồn ảnh: Internet.

Âm thanh cũng là một điểm sáng đáng nói của bộ phim. Nhất là phần nhạc phim, mẹ ơi bản leitmotif Lux Aeterna của Clint Mansell siêu hay và ám ảnh. Một quả nhạc vô cùng phù hợp với phim, giai điệu tăm tối, tiết tấu nhanh với bước dồn càng về sau như chính hành trình bi kịch của nhân vật. Có những phân cảnh vận dụng âm thanh chệch khỏi khung hình tạo không khí rùng rợn khá ổn.

Xem thêm: Đánh Giá Toner Thayers Có Tốt Không, Review Toner Thayers Có Tốt Không

RFAD không chỉ đem tới sự dị và rợn mà còn đóng khung nỗi cô đơn vào trong thước phim của mình. Những góc máy cho đoạn đối thoại giữa nhân vật hầu như rất rời rạc, chỉ tập trung vào nhân vật đang phát thoại làm nên cảm giác trống rỗng và bí bách. Cách Aronofsky đặt góc máy trong một số cảnh quay cũng tạo cho khán giả xúc cảm lạc lõng như chính nhân vật trong khung hình vậy. Nếu chỉ nói về kĩ thuật quay, thì chỉ là một phần nhỏ trong cách thể hiện nỗi cô đơn của Aronofsky. Cô đơn là thứ bao trùm tác phẩm từ hoàn cảnh nhân vật đến cách mà nhân vật đối diện với nó. Đến khi cuộc đời bị đọa đày, cô đơn là thứ còn lại trước những gì nhân vật phải hứng chịu…

*
Một cảnh trong “Mulholland Drive” của David Lynch.

Tui nghĩ rằng, Darren Aronofsky đã hữu hình cái ám ảnh nội tại của mình một cách duy mĩ. Mà ở RFAD, đó là bi kịch mâu thuẫn giữa khát vọng hiện sinh và thực tại hư vô. Để làm tốt được việc đó, Aronofsky đã vận dụng màu sắc có chủ ý. Nó rất giống với cách Lynch dụng màu trong “Mulholland Drive”: đỏ và xanh. Hai màu ấy như một cách thể hiện khá hiệu năng trong việc thao túng cảm quan về không-thời gian và chi phối xúc cảm theo chiều hướng nhất định. Đỏ và xanh, hai màu sắc cơ bản của cuộc sống có thể từ đó tạo nên muôn vàn màu sắc. Nó cũng giống như chính cái bi kịch ảo mộng vẫn tồn hữu ở đó và sẵn sàng xé xác con người ta vậy.

Đỏ và xanh, làm tui nhớ ngay đến tác phẩm “Perfect Blue” tràn ngập ảo giác của bậc thầy thao túng chiều kích không-thời gian: Kon Satoshi. Trong RFAD, một số cảnh được học tập từ “Perfect Blue” đã tạo được hiệu ứng tương tự rất tốt. Chà, nói tới màu “Perfect Blue” chắc đợi khi nào rảnh sẽ làm một bài riêng nói về phim đó.

*
Một cảnh trong “Perfect Blue” của Kon Satoshi (trái) và “Requiem for a dream” (phải).

Nếu áp cái nền về ý nghĩa màu phim vào cảnh tui cho là iconic nhất, mọi thứ sẽ rất rõ ràng. Đó là cảnh Jim chạy theo dáng hình của Marion trong bộ váy đỏ trên một chiếc cầu gỗ giữa mênh mông biển xanh. Và cảnh tui ấn tượng nhất là khi Jim nhận ra Marion đã biến mất, chỉ còn lại sắc xanh của biển, trời và của chính Jim. Và Jim té ngã. Tui từng đọc đâu đó rằng khi chúng ta ngủ quá sâu, não chúng ta sẽ tưởng rằng ta đã chết và tự đánh thức ta bằng cảm giác vụt chân ngã xuống từ trên cao. Cú ngã của Jim cũng thế, đó là giây phút Jim phải thức giấc sau rất nhiều giấc mơ của mình, mọi thứ sụp đổ và linh hồn thì tan biến. Đó cũng là giây phút Jim rơi vào đáy sâu của thực tại, cô độc và lạnh lẽo.

*
“Requiem for a dream” cut scene. Nguồn ảnh: Internet.

Requiem for a dream không đơn thuần là khúc bi ca cầu siêu cho những ảo vọng đã bị vùi tắt, không chỉ là câu chuyện bi kịch về những con người đáng thương trước phương cách cực đoan để chạm đến ước mơ của bản thân. Mà đó là một phần trong bức bích họa về một thế giới tang hoang “đầy” hão mộng, bởi lẽ, con người ta không ngừng mơ giữa hiện thực tréo ngoe. Và về những mặt tối của Giấc mơ Mỹ, tất cả nhân vật ban đầu đều ủ ấp một khao khát đầy hi vọng giải thoát cho đời mình. Chính sự ám ảnh với ảo vọng ấy đã khiến nhân vật nhận ra mọi thứ rồi vẫy vùng trong thực tại tuyệt vọng hòng bấu víu muội tàn của giấc mộng. Cuối cùng, họ là kẻ mộng mơ rồ dại bị băng hoại trong cuộc chơi á phiện và bị đánh gục bởi chính con quỷ bên trong mình. Phê thuốc để trốn chạy thế giới nhưng cũng là tự đẩy nhau đến chốn bạo tàn tận cùng thế giới.

Phim còn gợi nhắc đến “Fight Club”(1999) của David Fincher nữa. Có thời gian sẽ viết thêm về American Dream và những chuỗi phim thuộc đề tài đó. Còn nhiều khía cạnh trong RFAD mà tui muốn đề cập đến như vấn đề phân biệt chủng tộc được đan cài trong phim,… Nếu có cơ hội, tui nhất định sẽ chia sẻ nó.